ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 NÊN BẮT ĐẦU NHƯ THẾ NÀO?

Hiện nay, các Hướng dẫn điều trị bệnh đái tháo đường typ 2 (ĐTĐ2) trên thế giới đều thống nhất đó là bắt đầu bằng thay đổi lối sống (chế độ dinh dưỡng hợp lý và tăng cường vận động) và sử dụng metformin

Nếu sau 3-6 tháng, người bệnh không đạt mục tiêu điều trị thì bác sỹ có thể chỉ định thuốc phối hợp với metformin dựa vào tiêu chí người bệnh có các bệnh lý sơ vữa mạch, bệnh lý tim mạch, suy tim, suy thận hoặc không có các bệnh lý này để chỉ định thuốc cho phù hợp. Các hướng dẫn này dựa trên các nghiên cứu lớn mang tính đột phá gần đây sau khi FDA yêu cầu phải đánh giá nguy cơ tim mạch ở các thuốc điều trị ĐTĐ 2 từ tháng 12 năm 2008.

Tuy nhiên, vấn đề hiện nay đối với thực tiễn ngành y của chúng ta về điều trị ĐTĐ 2 nên áp dụng như thế nào cho phù hợp khi sự chi trả của người dân còn hạn chế vì các thuốc mới hiện nay được khuyến cáo hàng đầu vì lợi ích trên tim mạch, thận như nhóm ức chế SGLT-2, đồng vận GLP-1 có giá thành cao; không phải người bệnh nào cũng có thể chi trả được cũng như việc điều trị ĐTĐ 2 đang được triển khai và điều trị tại các tuyến y tế cơ sở.

Do vậy, theo quan điểm cá nhân của tôi, nếu sự chi trả của người bệnh hoàn toàn đáp ứng được thì chúng ta có thể áp dụng theo hướng dẫn của Guideline. Trong trường hợp sự chi trả hạn chế cũng như sự sẵn có của thuốc, thì chúng ta có thể lựa chọn các nhóm thuốc khác giá thành thấp hơn để điều trị theo hướng tham khảo các nghiên cứu sau:

  • Nghiên cứu UKPDS: đây là một nghiên cứu kinh điển trong điều trị bệnh ĐTĐ 2. 10 năm nghiên cứu và 10 năm theo dõi sau khi kết thúc nghiên cứu (UKPDSOS) đã cho thấy lợi ích phòng chống biến chứng mạch máu nhỏ và phần nào biến chứng mạch máu lớn khi chúng ta tích cực kiểm soát đường huyết ngay từ khi mới chẩn đoán ĐTĐ 2.
  • Nghiên cứu STENO2: Đây là nghiên cứu kiểm soát toàn diện các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân ĐTĐ 2 như: cân nặng, đường huyết, huyết áp, mỡ máu… kết quả cho thấy lợi ích lớn (giảm đến 50%) các biến chứng của bệnh ĐTĐ (cả biến chứng mạch máu nhỏ và biến chứng mạch máu lớn) so với nhóm chứng.
  • Trí nhớ chuyển hóa (metabolic memory): các nghiên cứu cho thấy, nếu chúng ta kiểm soát đường huyết và các yếu tố nguy cơ tích cực ngay từ khi mới chẩn đoán thì những lợi ích tích cực vẫn tiếp tục được duy trì một thời gian dài mặc dù điều trị thay đổi đây là trí nhớ chuyển hóa tốt “good memory). Ngược lại, nếu bắt đầu điều trị tích cực muộn (sau một thời gian mắc bệnh dài nhưng kiểm soát đường huyết và các yếu tố nguy cơ không đạt mục tiêu) thì sau này dù người bệnh được kiểm soát tích cực thì hiệu quả điều trị không đạt được như điều trị tích cực ngay từ đầu. Đây là trí nhớ chuyển hóa xấu “bad memory”.
  • Nghiên cứu VERIFY: nghiên cứu mới được báo cáo năm 2019. Đây là nghiên cứu phối hợp thuốc sớm ngay từ đầu khi người bệnh mới được chẩn đoán giữa nhóm ức chế DPP-4 và metformin so với điều trị metformin đơn thuần đã cho thấy hiệu quả rõ ràng trong kiểm soát đường huyết, thời gian duy trì của điều trị (không phải tăng liều, phối hợp thêm thuốc mới) của nhóm phối hợp thuốc sớm.

Các nghiên cứu trên cho chúng ta thấy hiệu quả phòng chống biến chứng, đạt mục tiêu điều trị tích cực, lâu dài khi chúng ta kiểm soát tích cực, chủ động đường huyết và các yếu tố nguy cơ tim mạch ngay từ khi người bệnh mới được chẩn đoán ĐTĐ 2. Việc kiểm soát tích cực là sự phối hợp giữa thay đổi lối sống và thuốc. Sự phối hợp thuốc sớm thì chúng ta cần căn cứ vào kết quả kiểm soát đường huyết, các yếu tố nguy cơ để chỉ định cho phù hợp dùng đơn trị liệu metformin hay phối hợp thuốc ngay từ đầu.

                                                                      Quảng Bình, ngày 14 tháng 7 năm 2020

 

 

                                                                                   TS. Phan Hướng Dương

 

Chat với dr Dương