Super User

Super User

Ở bệnh nhân đái tháo đường có bệnh lý tim mạch chúng ta thường quan tâm đến LDL-c mà chưa quan tâm đầy đủ đến triglycerid. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây cho thấy chúng ta cần quan tâm đến TG để phòng chống các biến cố tim mạch có thể xảy ra.

Nghiên cứu quốc tế cho thấy, đối với bệnh xơ gan tiến triển do bệnh gan thoái hóa mỡ không do rượu (nonalcoholic fatty liver disease - NAFLD), những bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có kết quả tốt hơn khi sử dụng metformin so với bệnh nhân sử dụng sulfonylureas đơn trị liệu.

Bác sỹ Eduardo Vilar-Gomez, Đại học Y khoa Indiana (Hoa Kỳ) tại Hội nghị khoa học về gan 2017 đã nói với Tạp chí Medscape Medical News: “Những bệnh nhân sử dụng metformin có thể thấy lợi ích lâu dài. Với metformin, tin lượng đươch cải thiện và nguy cơ bị bệnh gan mất bù và ung thư tế bào gan giảm. Trong khi đó, sử dụng sulfornylurea có thể tăng bệnh lý gan mất bù, đặc biệt ở những bệnh nhân đơn trị liệu bằng sulfornylurea. Do vậy, các bác sỹ lâm sàng nên cố gắng xác định những bệnh nhân có tỷ lệ cao mất bù và nên ngừng chỉ định sulfornylurea.”

Bác sỹ Vilar-Gomez và các cộng sự tại Australia, Cu Ba, Hồng Kông và Tây Ban Nha đã tiến hành nghiên cứu trên 458 bệnh nhân có tiền sử được xác định NAFLD.

Nghiên cứu thuần tập bao gồm 305 người ĐTĐ typ 2 và 153 người không mắc bệnh. Trong thời gian theo dõi 5,7 năm, có 216  biến cố: 84 người chết hoặc cấy ghép mô, 90 trường hợp đầu tiên bệnh gan mất bù và 42 trường hợp ung thư tế bào gan. Chỉ có 6 trường hợp tử vong không liên quan đến bệnh gan.

Tin lượng sống ở bệnh nhân ĐTĐ kém hơn người không bị ĐTĐ là 36% so với 72%, tương tự bệnh gan mất bù là 36% so với 12%, ung thư gan là 16% so với 6% (p<0,1).

Đối với bệnh nhân ĐTĐ, việc sử dụng metformin kết hợp với giảm nguy cơ tử vong hoặc ghép tạng, bệnh gan mất bù và ung thư gan. Ngược lại, sử dụng sulfornylurea kết hợp với tăng nguy cơ tử vong hoặc ghép tạng, bệnh gan mất bù.

Kết quả nghiên cứu cho bệnh ĐTĐ là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với sự tiến triển những sự kiện không mong muốn, bao gồm xơ gan và tử vong cũng như tác động của các thuốc điều trị đái tháo đường. Các nhà nghiên cứu mong muốn cần có những thử nghiệm lâm sàng để chứng minh tác động của các thuốc điều trị ĐTĐ đối với các tác động liên quan đến gan.

                      Dịch tóm tắt theo: Damian McNamara; Medcape, October 26, 2017

Kết quả nghiên cứu Preview study cho thấy, sự tích lũy hoạt động thể lực trong cả ngày (physical activity - PA) có thể cũng quan trọng như đạt được cường độ vận động thể lực từ trung bình đến cường độ mạnh trong việc cải thiện chuyển hóa tim mạch ở người trưởng thành tiền đái tháo đường.

Nils Swindell, Trường Đại học Swansea, Vương quốc Anh và cộng sự đã đánh giá mối tương quan giữa PA, thời gian tĩnh tại và nguy cơ chuyển hóa tim mạch ở 2,326 người trưởng thành tại 8 quốc gia cso BMI > 25 kg/m2 bị rối loạn glucose máu lúc đói hoặc rối loạn dung nạp glucose (tiền đái tháo đường). Mức độ vận động thể lực và thời gian tĩnh tại được đo trong bảy ngày.

Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy mối quan hệ âm tính của cường độ vận động trung bình đến mạnh với chỉ số kháng insulin (HOMA-IR), vòng eo, insulin lúc đói, triglycerid, CRP, huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Có sự kết hợp dương tính giữa thời gian tĩnh tại với HOMA-IR, vòng eo, insulin lúc đói, triglycerid, CRP và huyết áp. Sự kết hợp giữa vận động thể lực cả ngày với các yếu tố trên được báo cáo so sánh ngang bằng hoặc lớn hơn so với cường độ vận động từ trung bình đến mạnh.

“ Tổng số tích lũy vận động thể lực cả ngày ít nhất cũng tác động mạnh tới các marker của chuyển hóa tim mạch như tập luyện có cường độ vận động từ trung bình đến mạnh. Điều này cho thấy rằng, sự tích lũy vận động thể lực cả ngày cũng quan trọng như đạt được cường độ tập luyện từ trung bình đến mạnh”. Các tác giả viết.

                                       Theo tạp chí Diabetes Care ngày 20 tháng 11 năm 2017

Các hướng dẫn trên thế giới đều khuyến cáo sự cần thiết cá nhân hóa mục tiêu glucose máu tùy theo tuổi mắc bệnh, tình trạng sức khỏe, biến chứng của bệnh … Vấn đề xác định mục tiêu glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ có tuổi càng trở nên quan trọng vì nguy cơ các biến chứng tim mạch cấp có thể xảy ra bất kỳ lúc nào nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, đặc biệt khi bệnh nhân bị hạ đường huyết.

Trong những bài viết trước tôi đã viết về mục tiêu glucose máu cũng như các nghiên cứu mới nhất báo động về tác động của hạ đường huyết gây ra các biến cố tim mạch. Mới đây Hội cựu chiến binh Hoa Kỳ đưa ra khuyến cáo về mục tiêu glucose máu, trong đó chỉ ra các mức kiểm soát glucose máu phù hợp với người có tuổi rất đáng quan tâm, như sau:

  • Xác định mục tiêu HbA1C phải dựa trên sự giảm tuyệt đối nguy cơ biến chứng mạch máu nhỏ một cách có ý nghĩa, mong đợi tuổi thọ, sở thích cá nhân, các yếu tố xã hội để đưa ra quyết định.
  • Xây dựng kế hoạch quản lý glucose máu cá nhân dựa trên cân nhắc tỷ lệ nguy cơ và lợi ích, và sở thích của người bệnh.
  • Đánh giá các đặc điểm của người bệnh như: chủng tộc, dân tộc, bệnh thận mãn tính và các yếu tố ảnh hưởng glucose máu (phương pháp của labo xét nghiệm, tính biến thiên của xét nghiệm…) khi phiên giải kết quả HbA1C, fructosamine và các chỉ số glucose máu khác.
  • Cá nhân hóa mục tiêu glucose máu cần tính đến sở thích cá nhân, có hay không có các biến chứng mạch máu nhỏ, mức độ các bệnh lý khác đi kèm.
  • Mục tiêu HbA1C từ 6,0% - 7,0% (nếu như đạt được một cách an toàn) được khuyến cáo đối với những bệnh nhân mà tuổi thọ mong đợi lớn hơn 10-15 năm và không có hoặc mức độ nhẹ biến chứng mạch máu nhỏ.
  • Ở những bệnh nhân ĐTĐ typ 2, mục tiêu HbA1C từ 7% - 8,5% là phù hợp (nếu đạt được an toàn) đối với hầu hết bệnh nhân mà đã có các biến chứng mạch máu nhỏ, mạch máu lớn, các bệnh lý kèm theo hoặc tuổi thọ mong đợi 5-10 năm.
  • Mục tiêu HbA1C từ 8%-9% được khuyến cáo đối với những bệnh nhân ĐTĐ typ 2 mà tuổi thọ mong đợi < 5 năm, các bệnh lý kèm theo rõ, các biến chứng tiên triển hoặc những khó khăn tự quản lý bệnh tình của mình do tình trạng tâm thần, tàn phế hoặc các yếu tố khác (như sự không an toàn của thực phẩm hoặc thiếu sự hỗ trợ xã hội).
  • Người bệnh nên biết rằng sự biến động của HbA1C là yếu tố nguy cơ kết cục đối với bệnh mạch máu nhỏ và mạch máu lớn.

   Hà Nội, ngày 23 tháng 11 năm 2017

Page 1 of 3
Chat với dr Dương