Super User

Super User

Nghiên cứu người Mỹ trưởng thành cho thấy những người uống 1 ly trà nóng hàng ngày giảm 74% nguy cơ mắc bệnh glaucome mắt so với những người không uống trà.

Những chuyên gia cho rằng có thể không phải do trà mà có thể có yếu tố nào đó ở những người yêu trà làm nguy cơ mắc bệnh của họ giảm đi. Tuy nhiên, kết quả này đã đặt ra vấn đề cần thiết nghiên cứu sâu hơn. Giáo sư chuyên khoa mắt Coleman của Trường đại học California, Los Angeles đã nói: Thật thú vị, chỉ là uống nóng, trà kết hợp làm giảm nguy cơ glaucome mắt.

Trà đã lọc cafein và trà đá không có mối liên quan tới bệnh này, thậm chí cả café. Giáo sư Coleman cho biết rất khó để giải thích tại sao, có thể có cái gì đó liên quan đến lối sống của người uống trà nóng.

Những người có nguy cơ cao bị glaucome bao gồm: người da đen, tiền sử gia đình bị glaucome, cao huyết áp, đái tháo đường và những điều kiện khác mà ảnh hưởng đến tuần hoàn máu.

Đã có một số nghiên cứu gọi ý rằng những người uống nhiều café có nguy cơ bị glaucome cao hơn. Nghiên cứu khác gợi ý rằng cafein có thể tạm thời làm tăng nhãn áp. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác không thấy mối liên quan giữa café và glaucome.

Do vậy, nhóm nghiên cứu quyết định tìm hiểu xem liệu có mối liên quan nào giữa bệnh glaucome và không chỉ với café mà còn cả trà và soda – có cafein hoặc không. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng số liệu của một cuộc điều tra quốc gia trong đó các đối tượng được khám mắt và phỏng vấn về dinh dưỡng. Kết quả, trong 1,700 người được nghiên cứu, tỷ lệ bị glaucome là 5%. Kết quả nhóm nghiên cứu của GS. Coleman cho thấy những người uống trà nóng hơn 6 lần trong tuần đã giảm 75% nguy cơ mắc bệnh so với những người không uống trà. Một số yếu tố khác cũng được tính đến như: tuổi, cân nặng, bệnh đái tháo đường và thói quen hút thuốc lá.

Tuy nhiên, chưa thể kết luận trà có các tác dụng như vậy.  Các yếu tố khác của lối sống có thể ảnh hưởng như chế độ dinh dưỡng. Tuy nhiên theo lý thuyết thì trà có một số lợi ích. Trà chứa một số hóa chất thực vật mà có thể chống viêm và bảo vệ tế bào khỏi tổn thương.

Cuộc sống hiện đại không cho phép chúng ta duy trì thói quen tập thể dục thể thao mỗi ngày. Thế nhưng bạn có thể không cần phải đến phòng tập hay công viên mà vẫn rèn luyện thể lực để kiểm soát mức glucose máu. Sau đây là 7 bài tập đơn giản dành cho người bệnh đái tháo đường, bạn có thể thực hành ngay tại công sở.

 

   1. Nhón gót chân

Nhón gót chân khỏi mặt đất và giữ thăng bằng trên các ngón chân trong 10 giây, sau đó từ từ hạ bàn chân về như cũ. Thực hiện 5 – 10 lần. Đây là động tác rất đơn giản, bạn có thể thực hiện ở hầu hết mọi nơi.

   2. Nâng cẳng chân

Ngồi thẳng lưng tại bàn làm việc, từ từ nâng 1 bên chân đến khi cẳng chân của bạn song song so với mặt đất. Giữ nguyên tư thế trong vài giây, sau đó hạ chân về vị trí ban đầu. Tiếp tục thực hiện với chân còn lại. Mỗi lần tập từ 10 – 15 lần mỗi bên.

   3. Leo cầu thang

Nếu thực hiện điều độ, leo cầu thang rất tốt cho người bệnh đái tháo đường. Leo cầu thang không chỉ dành cho người làm việc ở tầng thấp. Trường hợp công ty bạn ở tầng 15 – 20, bạn vẫn có thể đi bộ lên lầu 2 – 3 trước khi bấm thang máy đi tiếp. Bài tập leo cầu thang có thể thực hành mỗi ngày và khi sẵn sàng, bạn nên tăng dần cường độ bằng cách đi bộ nhiều lầu hơn

   4. Hóp bụng

Hãy hít sâu, hóp cơ bụng và giữ nguyên trong vài giây, sau đó từ từ thở ra bằng mũi và thả lỏng cơ bụng. Thực hiện liên tục 10 – 15 lần. Bạn cũng có thể áp dụng bài tập này cho phần cơ mông.

   5. Thể lực cho đôi tay

Nếu bạn đang là nhân viên văn phòng và bị mắc bệnh đái tháo đường, thời gian ra ngoài bị hạn chế, bạn vẫn có thể tận dụng các vật dụng ngay trên bàn làm việc, để tập thể lực và nhóm cơ cho đôi tay của mình.

Với phần đôi bàn tay, hai bàn tay nắm lấy nhau như thể bạn đang tự bắt tay chính mình. Điều chỉnh tư thế để 1 ngón cái hướng xuống sàn, 1 ngón cái hướng lên trần nhà. Sau đó cố gắng kéo thật mạnh 2 tay về 2 phía và chịu áp lực trong khoảng 10 giây. Từ từ thả tay ra và lặp lại động tác từ 10 – 12 lần.

Với những ai đang muốn phát triển cơ tay 1 chút, hãy chọn một vật dụng tương đối nặng như chai nước, hộp đựng bút…để thay thế tạ tay trong bài tập này. Bạn ngồi thẳng lưng tại bàn làm việc, từ từ co cánh tay để đưa vật nặng đến ngang tầm ngực. Giữ nguyên tư thế trong 5 giây rồi từ từ hạ tay về chỗ cũ. Thực hiện 10 – 12 lần cho mỗi cánh tay. Chú ý giữ nguyên cánh tay trong suốt bài tập.

   6. Giãn cơ vai

Ngồi thẳng lưng trên ghế, sau đó từ từ nghiêng đầu về một bên vai. Giang tay về cùng hướng với đầu để tạo một lực kéo nhẹ lên vai. Giữ nguyên tư thế trong 10 giây và trở về vị trí ban đầu. Tiếp tục thực hiện giống như vậy với bên vai còn lại.

   7. Bài tập cổ

Bài tập cổ rất hữu ích cho nhân viên văn phòng, vốn thường xuyên ngồi lâu trước máy vi tính. Đầu tiên, chậm rãi nghiêng đầu về trước và ngả đầu về phía sau. Tiếp đến, lần lượt ngả đầu sang trái và sang phải. Cuối cùng, quay đầu chậm rãi sang trái và sang phải 6-8 lần. Đặc biệt, người bệnh đái tháo đường không nên xoay đầu nhanh và liên tục vì rất dễ gây tổn thương khớp cổ.

Vận động thể lực là thói quen tốt, nâng cao sức khỏe cho tất cả mọi người. Điều này lại càng quan trọng hơn với người bệnh đái tháo đường trên hành trình giảm cân, kiểm soát mức glucose máu, và sống vui khỏe, lạc quan.

Sau đây là 7 lưu ý giúp người bệnh đái tháo đường để có thể tập luyện thể lực hiệu quả.

 

  • Hỏi ý kiến bác sĩ trước khi bắt đầu.

  Bạn cần có sự tư vấn từ bác sĩ để chọn cho mình bài tập phù hợp với tình trạng sức khỏe, các biến chứng (nếu có), các thuốc hạ đường huyết đang dùng, và điều    kiện thời tiết tại địa phương.

  • Khởi động và thư giãn

  Dành ra 5 – 10 phút để khởi động làm nóng cơ thể, giúp cơ thể dần làm quen với cường độ tập luyện, điều chỉnh nhịp thở, nhịp tim và huyết áp… trước khi bắt đầu bài tập chính.

  • Không để bị mất nước

  Trung bình, mỗi tiếng rèn luyện thể lực sẽ khiến cơ thể bạn mất 1.5 lít nước, vậy nên hãy tuân thủ những khuyến cáo sau đây:

  Trước khi tập: uống ít nhất 500 ml nước trong vòng 1 tiếng.

  Trong khi tập: uống 150 ml nước mỗi 15-20 phút

  Sau khi tập: tiếp tục uống khoảng 500 ml nước.

  • Cẩn thận với thời tiết nóng bức

  Việt Nam là nước nhiệt đới với nhiệt độ trung bình khoảng 27 độ C, và có rất nhiều ngày nắng nóng trong năm. Để tập an toàn, người bệnh đái tháo đường cần tuân thủ những lời khuyên:

  1. Chọn thời điểm mát mẻ trong ngày để tập luyện (sáng sớm hoặc chiều)
  2. Mặc quần áo thoáng mát, màu sáng, phù hợp cho việc vận động
  3. Tránh vận động cường độ cao khi thời tiết nóng bức
  4. Uống đủ nước, nhưng tránh các loại thức uống có cồn.
  • Lắng nghe cơ thể

  Cơ thể mỗi người sẽ có cách thích ứng riêng với cường độ tập luyện. Trong quá trình tập, nếu bạn cảm thấy quá sức thì hãy dừng lại một chút và lắng nghe cơ thể mình.

  • Kiểm tra đường huyết thường xuyên

  Trước và sau khi tập, bạn nên kiểm tra và ghi lại chỉ số đường huyết của mình. Nếu bạn tập với cường độ từ một giờ đồng hồ trở lên, hãy nghỉ vài phút giữa buổi để nạp năng lượng và đo glucose huyết.

  Mang theo đường, kẹo, trái cây hay nước ép để nạp năng lượng, đề phòng tình trạng hạ glucose huyết trong khi tập.

  • Hãy tìm bạn đồng hành để cùng tập luyện

Bất cứ ai có chung sở thích tập luyện đều có thể là đồng đội của bạn: láng giềng, người thân, hoặc người nào đó nắm rõ bệnh tình của bạn để hỗ trợ khi cần thiết.

Nếu trong gia đình có người thân mắc bệnh đái tháo đường, các bạn nên đặc biệt lưu ý đến thực đơn trong ngày chuẩn bị cho họ. Chế độ ăn cần đảm bảo dinh dưỡng và hạn chế tối đa lượng đường trong khẩu phần ăn mỗi ngày.

 Bệnh viên Nội tiết Trung ương xin đưa thực đơn tham khảo một ngày cho người thân bị đái tháo đường.

  • Bữa sáng: Một tô phở gà vừa phải: Bánh phở 70g, 30g thịt gà, 30g giá đỗ
    * Bữa phụ sáng: 140ml sữa loại dành cho người bị tiểu đường
  •  Bữa trưa:
    - 1 chén cơm
    - Thịt sốt: 50g
    - Đậu phụ: 1 bìa 100g
    - Cà chua: 40g
    - Su hào luộc: 200g
    - Canh cải: 30g
    - Dầu TV: 5G
  • Bữa tối
    - Một chén cơm
    - Thịt lợn kho: 80g
    - Lạc rang: 20g
    - Su su luộc: 200g
    - Canh chua
    - Dầu TV: 1g
    - 3 trái táo ta nhỏ
    * Bữa phụ trước khi đi ngủ: 230ml sữa dành cho người bị tiểu đường.
    Trân trọng cám ơn!

Với những người mắc các bệnh về tuyến giáp như suy tuyến giáp, u tuyến giáp, rối loạn tuyến giáp, hay ung thư tuyến giáp... thường mất nhiều thời gian điều trị để cân bằng lại hormone giúp tuyến giáp hoạt động tốt nhất. Tuy nhiên, chính chế độ dinh dưỡng hàng ngày cũng có thể hỗ trợ không nhỏ tới quá trình điều trị bệnh để giúp cơ thể nhanh phục hồi và duy trì sức khỏe tuyến giáp ở thể trạng tốt nhất. Do đó, hãy tìm hiểu kỹ những loại thực phẩm nên và không nên ăn khi mắc bệnh về tuyến giáp để thúc đẩy quá trình điều trị đạt hiệu quả sớm hơn.

Nên ăn:

  • Thực phẩm giàu i-ốt:
    Tuyến giáp cần i-ốt để sản sinh ra các hormone cần thiết. Nếu muốn tìm đến nguồn thực phẩm giàu i-ốt tự nhiên thì hãy lựa chọn tảo biển, cá biển, cua, ghẹ... hoặc các thực phẩm có tăng cường i-ốt như muối i-ốt và bổ sung thường xuyên để cơ thể không thiếu hụt i-ốt bạn nhé.

 

  • Rau lá xanh:
    Rau bina, rau diếp, cải xoăn... đều là những loại rau lá xanh chứa nguồn magie và khoáng chất dồi dào. Thường xuyên ăn rau lá xanh không chỉ hỗ trợ hoạt động của tuyến giáp mà còn giảm bớt tình trạng mệt mỏi, chuột rút cơ và thay đổi nhịp tim của cơ thể.

 

  • Các loại hạt
    Hạt điều, hạnh nhân, hạt bí... cũng là một nguồn thực phẩm tuyệt vời giàu sắt và magie nên rất tốt cho tuyến giáp. Không những thế, các loại hạt còn cung cấp cho cơ thể một nguồn vitamin E và B giúp tuyến giáp hoạt động trơn tru hơn.

Hạn chế ăn:

  • Các sản phẩm từ đậu nành
    Một số hợp chất được tìm thấy trong các sản phẩm từ đậu nành như sữa đậu nành, đậu phụ... có thể gây cản trở khả năng tạo ra hormone của tuyến giáp. Bởi lẽ, đậu nành có thể làm giảm khả năng hấp thu i-ốt vào cơ thể. Do đó, nếu mắc bệnh về mất cân bằng hormone hay rối loạn tuyến giáp thì bạn không nên ăn đậu nành hoặc đậu phụ hàng ngày và kéo dài, có thể dùng thay đổi trong tuần với số lượng hợp lý hoặc đi tư vấn dinh dưỡng để có thông tin chính xác.

 

  • Đồ ăn từ nội tạng động vật
    Thận, tim, hoặc gan đều là những cơ quan nội tạng có chứa nhiều axit lipoic, một axit béo có thể làm gián đoạn quá trình hoạt động của tuyến giáp nếu bạn tiêu thụ quá nhiều. Thậm chí, axit lipoic còn có thể tương tác với thuốc điều trị tuyến giáp mà bạn đang sử dụng, nên bạn cần trao đổi với bác sĩ để biết thông tin đầy đủ.

 

  • Thực phẩm chứa gluten
    Gluten thường được tìm thấy trong lúa mì, lúa mạch... nó sẽ có hại khi bạn được chẩn đoán mắc bệnh celiac. Bởi gluten có thể gây tổn thương đường tiêu hóa của người mắc bệnh celiac. Bên cạnh đó, nó còn gây ra vô số vấn đề nghiêm trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tuyến giáp, từ đó gây ra bệnh Hashimoto (viêm tuyến giáp) và bệnh Graves (cường giáp). Hãy đi tư vấn dinh dưỡng để biết các thực phẩm nào chứa gluten.

 

  • Chất xơ và đường
    Cho dù chất xơ rất tốt cho hệ tiêu hóa thì bạn cũng không nên ăn quá thường xuyên vì nó có thể ngăn cản sự hấp thu của thuốc vào cơ thể. Do đó, người bệnh nên ăn đủ chất xơ hàng ngày theo khuyến nghị của chuyên gia dinh dưỡng.
    Mặt khác, đường và các chất tạo ngọt cũng có thể gây suy giảm chức năng tuyến giáp. Bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới việc chuyển hóa đường thành năng lượng, từ đó gây tăng cân và hạn chế hoạt động của tuyến giáp. Ngoài ra, nếu sử dụng quá nhiều đường và chất tạo ngọt có thể gây thừa cân, rối loạn chuyển hóa đường, cũng như các rối loạn chuyển hóa khác. Do đó, cần phải tư vấn dinh dưỡng để biết lượng đường và chất xơ phù hợp nhất cho mỗi người bệnh.
 

 

Một nhóm các nhà nghiên cứu đã thấy rằng việc kiểm soát mạnh glucose máu để đạt được mục tiêu glucose máu thấp ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có thể làm tăng nguy cơ tử vong.

Trong khi xem xét số liệu hàng ngày từ hơn 300.000 người ở nước Anh, được thu thập từ năm 2004 đến 2015, các nhà nghiên cứu đã thấy rằng mức thấp hơn của HbA1C – liên quan đến việc kiểm soát tốt glucose máu, đã kết hợp với tăng nguy cơ tử vong, so với mức HbA1C vừa phải, đặc biệt trùng hợp với việc điều trị tích cực mà có thể đã gây ra hạ đường huyết.

Nhà nghiên cứu Craig Currie từ Trường Đại học Y Khoa Cardiff đã nói: Các hướng dẫn điều trị khuyến cáo chung chiến lược điều trị nhằm đạt được mức thấp của việc kiểm soát glucose nhằm làm giảm các biến chứng mạch máu lớn như bệnh động mạch vành và đột quỵ. Ngược lại với sự tin tưởng này, kết quả tìm thấy của chúng tôi chỉ ra một cách thuyết phục rằng có sự kết hợp với tăng nguy cơ tử vong và điều này cần xem xét, cân nhắc để kiểm soát tốt glucose hoặc mức thấp của HbA1C.”

Kết quả của nghiên cứu đã gợi ý rằng cả các nghiên cứu ngẫu nhiên hay nghiên cứu quan sát đều đã cho thấy sự kết hợp giữa mức kiểm soát glucose máu và các kết cục không mong đợi mà không có bất kỳ sự giải thích nào về lý do tại sao. Do vậy, mục tiêu tối ưu của kiểm soát glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 vẫn còn chưa chắc chắn.

Mặt khác, nguy cơ tử vong liên quan đến việc kiểm soát glucose máu còn liên quan đến loại thuốc điều trị ĐTĐ. Mối liên quan chủ yếu mà tăng nguy cơ tử vong ở những người ĐTĐ typ 2 kiểm soát tốt glucose, được điều trị với insulin và những thuốc giảm glucose máu khác mà gây ra hạ đường huyết.

Currie nói: “Hàng loạt vấn đề được đặt ra về sự an toàn của một số thuốc hạ glucose máu, với những bằng chứng khoa học và những ý kiến đối lập chưa được quan tâm nhiều”.

Nghiên cứu này một lần nữa tái khẳng định sự cần thiết phải cá nhân hóa mục tiêu glucose máu, trong đó các biến chứng về tim mạch là tiêu chí cần thiết để xem xét.

               Theo Tạp chí Journal Diabetes, Obesity and Metabolism, ngày 16/11/2017.

Nhóm thuốc incretin (bao gồm đồng vận của GLP-1 và ức chế DPP-4) có tác dụng cải thiện kết quả nhồi máu cơ tim ST không chênh lên (non-ST-elevation myocardial infarction (NSTEMI)) ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 (ĐTĐ) và xơ vữa động mạch không tắc nghẽn (non-obstructive coronary artery stenosis (NOCS)) theo như một nghiên cứu được đăng trên tạp chí online Diabetes, Obesity and Metabolism ngày 26/9/2017.

TIN LƯỢNG BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG BỊ NOCS - NSTEMI ĐƯỢC CẢI THIỆN KHI SỬ DỤNG NHÓM THUỐC INCRETIN

Nhóm thuốc incretin (bao gồm đồng vận của GLP-1 và ức chế DPP-4) có tác dụng cải thiện kết quả nhồi máu cơ tim ST không chênh lên (non-ST-elevation myocardial infarction (NSTEMI)) ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 (ĐTĐ) và xơ vữa động mạch không tắc nghẽn (non-obstructive coronary artery stenosis (NOCS)) theo như một nghiên cứu được đăng trên tạp chí online Diabetes, Obesity and Metabolism ngày 26/9/2017.

Tiến sỹ Raffaele Marfella từ Trường Đại học degli Studi della Campania, Ý và cộng sự đã so sánh tin lượng của những bệnh nhân bị NOCS (hẹp 20-49%), NSTEMI kèm theo bị ĐTĐ và bệnh nhân không bị ĐTĐ trong vòng 12 tháng. Họ cũng so sánh tin lượng của những bệnh nhân trước đó đã điều trị với nhóm thuốc incretin (6 tháng) và những bệnh nhân chưa bao giờ điều trị bằng incretin.

Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng tử vong do mọi nguyên  nhân, tử vong do tim mạch, tái bị hội chứng mạch vàng cấp và suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ cao hơn bệnh nhân không bị ĐTĐ. Trong số những bệnh nhân ĐTĐ, những người hiện đang sử dụng incretin có tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân, do bệnh lý tim mạch và tái bị hội chứng mạch vành cấp thấp hơn có ý nghĩa so với những bệnh nhân không sử dụng incretin trong suốt 12 tháng.

“Ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 bị NOCS-NSTEMI, chúng tôi quan sát thấy tỷ lệ tử vong một năm và những kết cục bất lợi về tim mạch cao hơn khi so sánh với những bệnh nhân bị NOCS-NSTEMI không kèm ĐTĐ. Đối với những bệnh nhân ĐTĐ chưa bao giờ sử dụng incretin có tin lượng xấu hơn khi so sánh với những bệnh nhân hiện đang sử dụng incretin”, các tác giả kết luận.

                                   FRIDAY, Oct. 27, 2017 (HealthDay News), Physician’s Briefing

I ốt là vi chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tổng hợp hormon tuyến giáp (T3 và T4). Các hormon này đóng vai trò quan trọng trong các quá trình chuyển hóa của cơ thể, đặc biệt quan trọng là giai đoạn hình thành và phát triển hệ thần kinh trung ương từ giai đoạn bào thai đến trẻ nhỏ. Do vậy, thiếu I ốt gây ra nhiều hậu quả khác nhau tùy theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể. Bướu cổ là mức độ nhẹ nhất của các rối loạn do thiếu I ốt (CRLTI), các mức độ nặng hơn, phổ biến hơn nhưng chúng ta khó nhận biết được đó là suy giáp, giảm trí thông minh, đần độn. Người phụ nữ mang thai nếu bị thiếu I ốt con sinh ra có nguy cơ cao bị suy giáp, giảm trí thông minh và nặng hơn là đần độn.

I ốt nằm trong đất lớp vỏ bề mặt của trái đât. Do mưa lũ, đất bề mặt (có chứa I ốt ) bị bào mòn cuốn trôi ra biển. Trải qua hàng nghìn năm, tại những khu vực bì bào mòn nhiều không còn I ốt nữa. Cây sống tại khu vực thiếu I ốt cũng sẽ bị thiếu I ốt. Động vật ăn thực vật thiếu I ốt, uống nước thiếu I ốt cũng bị thiếu I ốt. Do vậy, con người sống ở khu vực thiếu I ốt cũng bị thiếu I ốt do thực phẩm ăn vào bị thiếu I ốt.

Có nhiều biện pháp phòng chống thiếu i-ốt, một trong những biện pháp đó là bổ sung i-ốt vào muối ăn. Các nghiên cứu trong và ngoài nuớc đều cho thấy : đây là biện pháp phòng bệnh có hiệu quả nhất, đơn giản nhất và chi phí thấp nhất. Việc bổ sung i-ốt phải diễn ra thường xuyên đều đặn hàng ngày, trong suốt cả đời người.

            Trên thế giới, các kết quả điều tra cho thấy hiện nay có khoảng 2,2 tỷ người sống trong khu vực bị thiếu i-ốt. Khu vực thiếu i-ốt không chỉ là những vùng núi cao như Hymalayas, Alpes mà còn cả những khu vực thấp như lục địa Châu Phi, phía đông của Châu Âu…

Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực bị thiếu i-ốt. Điều tra quốc gia đầu tiên về tình trạng thiếu i-ốt năm 1993 cho thấy: tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8-12 tuổi là 22%, mức trung vị i-ốt niệu là 32 mcg/l (mức khuyến cáo không bị thiếu i-ốt của Tổ chức Y tế thế giới là mức trung vị i-ốt niệu 100 mcg/l). Như vây, 94% người dân Việt Nam sống trong vùng bị thiếu i-ốt. Thiếu i-ốt không chỉ ở miền núi mà còn có cả ở đồng bằng và ven biển.

            Trước thực trạng thiếu I ốt đó, ngày 2/11/1993 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 481/QĐ-TTg về việc “Vận động toàn dân mua và sử dụng muối i-ốt” nhằm khuyến khích người dân sử dụng muối i-ốt để phòng chống CRLTI, bảo vệ sức khỏe và trí tuệ của giống nòi. Chính vì vậy, để tuyên truyền công tác phòng chống CRLTI, hàng năm Bộ Y tế lấy ngày 2/11 là ngày toàn dân đi mua và sử dụng muối I ốt.

            Năm 2005, được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước; sự phối hợp, hỗ trợ của các Bộ/ngành, của Chính quyền các cấp, các Tổ chức quốc tế như UNICEF, CEMUBAC… Bộ Y tế đã chỉ đạo thực hiện hoàn thành mục tiêu thanh toán tình trạng thiếu hụt i-ốt tại Việt Nam của Chương trình quốc gia phòng chống CRLTI và được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Các mục tiêu thanh toán tình trạng thiếu i-ốt chúng ta đã đạt được theo tiêu chuẩn quốc tế:

1) Tỷ lệ bao phủ muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh tại hộ gia đình đạt  từ 90% trở lên (thực tế Việt nam đã đạt : 93,1%)

2) Mức i-ốt niệu trung vị đạt từ 100 mcg/L trở lên (thực tế Việt nam đã đạt : 122 mcg/L)

3) Tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em từ 8 đến 10 tuổi phải thấp hơn 5% (thực tế Việt nam đã đạt : 3,6%)

Tuy nhiên, sau khi hoàn thành mục tiêu thanh toán tình trạng thiếu i-ốt, Chương trình quốc gia phòng chống các rối loạn thiếu i ốt đã trở thành hoạt động thường xuyên của Bộ Y tế. Nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động phòng chống CRLTI là duy trì bền vững kết quả đã đạt được. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan tình trạng thiếu I ốt đã quay trở lại nước ta.

Các điều tra của Bệnh viện Nội tiết TW dưới sự giúp đỡ của UNICEF năm 2008 – 2009 đã cho thấy tỷ lệ hộ gia đình sử dụng muối i ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh toàn quốc giảm xuống còn 69.5%, mức trung vị i ốt niệu chỉ còn 83 mcg/l. Điều tra tỷ lệ bướu cổ học sinh 8-10 tuổi toàn quốc năm 2013-2014 cho thấy tỷ lệ bướu cổ là 9,8%; mức trung vị i ốt niệu là 84 mcg/l. Đây thực sự là những con số hết sức báo động về tình hình thiếu hụt i ốt tại Việt Nam hiện nay.

Để khắc phục nguy cơ thiếu hụt i-ốt quay trở lại, duy trì kết quả đạt được năm 2005, Bộ Y tế đã chấp thuận đưa Chương trình phòng chống CRLTI từ hoạt động thường xuyên của Bộ Y tế vào Chương trình Mục tiêu Y tế - Dân số giai đoạn 2016 – 2020 báo cáo Chính phủ. Ngày 31/7/2017 Thủ tướng ký Quyết định 1125/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Chương trình Mục tiêu y tế - dân số giai đoạn 2016 – 2020, trong đó Dự án Phòng chống CRLTI.

Ngày 28 tháng 1 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 09/2016/NĐ-CP Quy định về tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm. Nghị định quy định rõ muối dùng để ăn trực tiếp, dùng trong  chế biến thực phẩm bắt buộc phải bổ sung i ốt. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để chúng ta có thể đạt và duy trì bền vững kết quả thanh toán CRLTI mà chúng ta đã đạt được năm 2005.

Đối với mỗi người dân chúng ta, để phòng chống CRLTI, chúng ta hãy sử dụng muối I ốt, các gia vị mặn có bổ sung I ốt như bột canh I ốt, bột nêm I ôt hàng ngày.

Chat với dr Dương